Trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1873?

Trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1873?

0 bình luận về “Trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ 1858-1873?”

  1. Trình bày cuộc kháng chiến chống Pháp của ND ta từ 1858-1873.

    I.Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam:

    1. Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam:

    – Từ giữa thế kỉ XIX, các nước Tư bản phương Tây (Pháp) đẩy mạnh xâm lược các quốc gia phương Đông để mở rộng thị trường, hệ thống thuộc địa.

    – Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi, giàu TNTN, dân số đông và Chế độ PK Việt Nam đang suy yếu.

    – Lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô.

    2. Chiến sự ở Đà Nẵng những năm 1858-1859:

    – Ngày 1-9-1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng đánh Đà Nẵng.

    – Quân dân ta dưới sự chỉ huy của của Nguyễn Tri Phương đã lập phòng tuyến anh dũng chống trả.

    → Sau 5 tháng, Pháp chỉ chiếm được Bán Đảo Sơn Trà.

    3. Chiến sự ở Gia Định năm 1859:

    – Ngày 12-2-1859, Pháp → thành Gia Định, quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã.

    – Quần chúng nhân dân tiếp tục nổi dậy →Pháp khốn đốn.

    – Ngày 24-2-1861, Pháp đánh chiếm Đại đồn Chí Hoà, thừa thắng lấn lướt chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và Vĩnh Long.

    – Ngày 5-6-1862, triều đình Huế kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và đảo Côn Lôn.

    II. Cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1858-1873:

    1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì:

    Tại Đà Nẵng nhiều toán nghĩa binh nổi dậy, phối hợp với quân triều đình chống giặc.

    – Ngày 10-12-1861, nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Ét-pê-răng (Hi vọng) của Pháp trên sông Vàm Cỏ.

    – Khởi nghĩa của Trương Định ở Gò Công đã làm cho Pháp thất điên bát đảo, gặp nhiều thiệt hại.

    2. Kháng chiến lang rộng ra ba tỉnh miền Tây:

    a. Thái độ của triều đình nhà Huế:

    – Triều đình nhà Huế đã đàn áp phong trào nông dân ơi Trung Kì và Bắc Kì, ngăn cản phong trào của nhân dân ơi Năm Kì.

    – Do thái độ cầu hoà, do dự của triều đình, Pháp đã chiếm 3 tỉnh miền Tây mà không tốn một viên đạn nào.

    b. Phong trào đấu tranh chống Pháp ở 3 tỉnh miền Tây:

    – Bất hợp tác với giặc, một số bộ phận tiến hành kháng chiến, nhiều căn cứ kháng chiến được lập nên: Đồng Tháp Mười, Tây Ninh, Trà Vinh.

    – Một số bộ phận dùng văn thơ để lên án thực dân Pháp và tay sai, để cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị…

    Bình luận
  2. 1. Kháng chiến ở Đà Nẵng và ba tỉnh miền Đông Nam Kì

    – Tại Đà Nẵng, nhiều toán nghĩa binh nổi dậy phối hợp với quân triều đình chống Pháp

    – Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Hi Vọng của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông (10 – 12 – 1861).

    – Khởi nghĩa của Trương Định ở Gò Công làm cho quân Pháp khốn đốn và gây cho chúng nhiều thiệt hại.

    2. Kháng chiến lan rộng ra ba tỉnh miền Tây.

    – Thái độ và hành động của triều đình Huế trong việc để mất ba tỉnh miền Tây:

    + Triều đình đã ngăn cản phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta ở Nam Kì, ra lệnh bãi binh…

    + Do thái độ cầu hòa của triều đình, Pháp đã chiếm được ba tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) không tốn một viên đạn (1867)

    – Phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú:

    + Bất hợp tác với giặc, một bộ phận kiên quyết đấu tranh vũ trang, nhiều trung tâm kháng chiến ra đời: Đồng Tháp Mười, Tây Ninh…

    + Một bộ phận dùng thơ văn lên án thực dân Pháp và tay sai, cổ vũ lòng yêu nước: Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông…

    Bình luận

Viết một bình luận